Trang chủ > Tài chính, Thị trường > Về dịch vụ thanh toán qua các loại thẻ

Về dịch vụ thanh toán qua các loại thẻ

I.  Sơ qua về dịch vụ thanh toán, thẻ thanh toán của ngân hàng.
Dịch vụ thanh toán là gì?
Theo Nghị định của Chính phủ số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác do Ngân hàng Nhà nước quy định của các tổ chức cung ứng dịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán.

Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là Ngân hàng Nhà nựớc Việt Nam, ngân hàng, tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán.

Các dịch vụ thanh toán gồm có: cung ứng dịch vụ thanh toán; Dịch vụ thanh toán trong nước; Dịch vụ thanh toán quốc tế; Dịch vụ thu hộ, chi hộ và dịch vụ thanh toán khác do NHNN quy định.
Tìm hiểu về thẻ thanh toán của ngân hàng.

Thẻ thanh toán được hiểu như một phương tiện thanh toán được sử dụng để thực hiện  dịch vụ thanh toán bên cạnh các phương tiện thanh toán khác như tiền mặt, séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu…

Với những tính năng ưu việt như gọn nhẹ, an toàn, thuận lợi… thẻ thanh toán đã và đang được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Như chúng ta biết, trong các dao dịch thựơng mại cổ điển, việc thanh toán được thực hiện đa phần bằng tiền mặt. Tuy nhiên, vận chuyển tiền mặt lại kèm theo rất nhiều rủi ro và bất tiện, người ta đã nghĩ ra các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, qua thời gian hình thức thanh toán bằng thẻ ra đời và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống , thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

Thẻ là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn (thường là 8,5*5,5 cm) và có một băng từ ở mặt sau ghi thông tin về chủ thẻ, cũng có thể có chíp điện tử để ghi các thông tin phụ thêm khác. Thẻ thường do các ngân hàng phát hành cho khách hàng của mình để phục vụ cho việc thanh toán. Thẻ được chialàm nhiều loại tùy theo tính năng, tác dụng của thẻ. Cơ bản, có thể kể tên một số loại thẻ thường được gặp sử dụng phổ biến như sau:

1. Thẻ tín dụng (Credit card) 
Thẻ tín dụng là loại thẻ được sử dụng phổ biến, ngân hàng cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức nhất định. Đối với những khách hàng có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, có tình hình tài chính tốt, luôn đảm bảo khả năng thanh toán thì ngân hàng cho phép sử dụng thẻ tín dụng. Điều đó nghĩa là ngân hàng đồng ý cho chủ thẻ (Cardholder) vay đến một mức tối đa nào đó ( thường là khoảng 2 lần thu nhập hàng tháng của chủ thẻ), chủ thẻ sẽ có một giới hạn tín dụng ( credit limit) sẵn sàng để dùng khi cần ví dụ như khi đi mua sắm, ăn uống…các dịch vụ khác. Tất cả các khoản thanh toán mà chủ thẻ thực hiện sẽ được ghi nợ (debit) vào tài khoản của chủ thẻ tại ngân hàng. Đến một ngày nhất định mỗi tháng, ngân hàng xẽ gửi một bảng kê về số tiền chủ thẻ đẫ chi trong tháng trước đó. Chủ thẻ có thể chọn thanh toán số tiền trước thời hạn ghi trong thông báo, khi đó chủ thẻ không phải trả lãi. Nếu không, chủ thẻ có thể trả số tiền tối thiểu, phần còn lại có thể trả từ từ và sẽ bị tính lãi theo quy định của ngân hàng. Một số laọi thẻ tín dụng thường thấy như VISA card, Master card…

Thẻ tín dụng có thể được dùng để thanh toán trực tiếp hoặc thanh toán online. Trường hợp thanh toán trực tiếp, ví dụ chủ thẻ đang sử dụng là thẻ VISA, chủ thẻ mua hàng và yêu cầu thanh toán bằng thẻ của mình ( của hàng phải nhận thanh toán bằng VISA), của hàng sẽ quẹt thẻ của chủ thẻ vào một chiếc máy đọc thẻ, đọc các thông tin của bạn ghi trrên băng từ và liên lạc với ngân hàng đại lí  qua modem, điện thoại… đồng thời gửi kèm yêu cầu về số tiền cần thanh toán, ngân hàng sẽ kiểm tra cơ sở dữ liệu của VISA xem thẻ có hợp lệ không (có phải là thẻ mất cắp hay thẻ hết hạn không…), sau đó, ngân hàng sẽ báo lại trong vài giây về máy đọc thẻ là giao dịch đã được duyệt, chủ thẻ nhận hóa đơn thanh toán. Trường hợp thanh toán online, chủ thẻ chỉ phải cung cấp tên, ngày hết hạn và số thẻ ( 16 số in trên mặt trước thẻ) thì đại lí cung cấp dịch vụ cũng sẽ kiểm tra tương tự như làm qua máy đọc thẻ. Tuy nhiên, giao dịch online chưa chắc an toàn (hacker…), nếu bạn chủ thẻ phát hiện ra giao dịch không do mình thực hiện trên hóa đơn thông báo của ngân hàng có thể đến ngân hàng và yêu cầu kiểm tra lại, nếu chủ thẻ chứng minh được giao dịch không phải do chủ thẻ thực hiện, ngân hàng sẽ sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để bảo đảm quyền lợi cho bạn.

2. Thẻ ghi nợ ( Debit card)
Thẻ ghi nợ kà koại thẻ gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán hay tài khoản séc của khách hàng. Khách hàng sử dụng loại thẻ này thì giá trị giao dịch được khấu trừ ngay  vào tài khoỉan của khách hàng, đồng thời ghi có ngay vào tài kkhoản của người thụ hưởng. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc trực tiếp vào số dư hiện hữu trên tài khoản chủ thẻ, có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản sau:

–    Thẻ online: là thẻ mà giá trị giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ.
–    Thẻ offline: là thẻ mà giá trị giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đo vài ngày.

Điểm khác biệt căn bản nhất có thể thấy được giữa thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ là thẻ ghi nợ không có quan hệ vay nợ, chủ thẻ có tiền trong tài khoản có thể tiêu và hết thì thôi, không vay được. Ngân hàng phát hành thẻ ghi nợ không phải chịu rủi ro khi chủ thẻ không có tiền trả nợ, thực chất giống như việc ngân hàng giữ tiền hộ chủ thẻ, giúp chủ thẻ sử dụng được tiện ích của các dịch vụ thanh toán quốc tế. Thẻ ghi nợ  cũng có hình thưc tương tự như thẻ tín dụng, có tên in nổi của chủ thẻ phía trước, ngày cấp ngày hết hạn và in nổi 16 số của thẻ, logo của tổ chức thanh toán quốc tế, phía sau có chữ kí‎ và mã bảo vệ. Nếu chỉ dựa vào hình thức thì khó có thể phân biệ được thẻ tín dụng hay ghi nợ, tín dụng hay ghi nợ là phản ánh mối quan hệ giữ chủ thẻ và ngân hàng mà thôi.

Ví dụ về thẻ ghi nợ, ở Việt Nam thẻ ATM được coi là một loại thẻ ghi nợ có chức năng rút tiền dựa trên ghi nợ vào tài khoản. Chủ tài khoản phải có sẵn tiền trong tài khoản từ trước và chỉ được rút trong giới hạn số tiền có của mình. Với ATM một số ngân hàng cho phép rút tới mức 0, một số yêu cầu số dư tối thiểu.

Quy trình thanh toán qua thẻ được sơ đồ hóa như sau:

Trong đó:
(1a) Khách hàng lập và gửi đến ngân hàng phát hành thẻ giấy đề nghị phát hành thẻ thanh toán.
(1b) Căn cứ giấy đề nghị phát hành thẻ của KH, sau khi kiểm tra thủ tục và đủ các điều kiện sử dụng thẻ, NH phát hành thẻ làm thủ tục để cấp thẻ cho khách hàng. NH phát hành thẻ phải quản lý và giữ bí mật tuyệt đối về mật mã sử dụng thẻ của khách hàng.
(2) Chủ sở hữu giao thẻ cho cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ để kiểm tra, đưa thẻ vào máy thanh toán thẻ, máy tự động ghi số tiền thanh toán và in biên lai thanh toán (3 liên).
(3) Cơ sở tiếp nhận thẻ và giao một liên biên lai thanh toán cho chủ sở hữu thẻ.
(4) Cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ lập bảng kê biên  lai thanh toán và gửi cho ngân hàng đại lý ‎ thanh toán thẻ để thanh toán.
(5) Nhận được biên lai thanh toán kèm theo bảng kê biên lai thanh toán do sơ sở tiếp nhận thanh toán thẻ gửi đến sau khi kiểm tra đủ điều kiện thanh toán. NH đại lý ‎thanh toán thẻ co strách nhiệm thanh toán ngay cho cơ sở có trách nhiệm thanh toán bằng thẻ.
(6) NH đại lý thanh toán thẻ thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ ( qua thủ tục với các ngân  hàng).

II. Hiện trạng việc dùng thẻ thanh toán ở Việt Nam, nguyên nhân, giải pháp.
Có thể dễ dàng nhận thấy thanh toán bằng tiền mặt hiện nay vẫn rất phổ biến trong nền kinh tế nước ta. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực doanh nghiệp và chiếm đại đa số trong các giao dịch thanh toán của khu vực dân cư. Theo những con số thống kê chính thức, tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt một số năm: 2004: 20,35%; 2005: 19,01%; 2006: 17,2; 2008: 14,6. Việc thanh toán qua thẻ là rất thuận lợi: nhỏ gọn, thanh toán đơn giản, dễ dàng ở nhiều nơi, linh hoạt trong chi tiêu, tương đối an toàn, phương thức thanh toán chuyên nghiệp, hiện đại với công nghệ thông minh và nhiều tính năng ưu việt khác nữa. Với những tính năng nổi trổi như vậy, tuy nhiên, ở VN loại hình thanh toán này lại ít phổ biến, các ngân hàng mỗi năm đều tung ra hàng nghìn thẻ nhưng chủ yếu là thẻ ATM, phát hành dưới hình thức liên kết giữa ngân hàng với các công ty để trả lương hay với các trường đào tạo phục vụ việc rút tiền mặt là chính, suy cho cùng vẫn là các giao dịch liên quan đến tiền mặt. Điều đáng buồn là khi các nước tiên tiến trên thế giới, tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt lên tới 90% thì ở VN con số này chỉ là 1/5, chúng ta thừa giao dịch rút tiền mặt nhưng lại thiếu những giao dịch chuyển khoản hay thanh toán bằng thẻ, rút tiền thì hầu hết ai cũng biết nhưng những tính năng thông minh khác của tấm thẻ lại rơi vào tình trạng bị thờ ơ.  Người dân mang tâm lý sẵn sàng xếp hàng trước cây ATM để rút tiền thay vì dùng dịch vụ POS ( cà thẻ để trả tiền). Tại sao lại như vậy, nguyên nhân có nhiều nhưng chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân chủ chốt sau:

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin trong nước còn yếu kém. Tại Việt Nam rất ít các siêu thị, cửa hàng… chấp nhận thanh toán bằng thẻ, thậm chí ở những thành phố lớn, số lượng nhà hàng, cửa hàng thanh toán bằng thẻ có thể đếm trên đầu ngón tay. Cần phải nói thêm, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngân hàng TM ở VN hiện nay còn thiếu đồng bộ và chưa có hệ thống kỹ thuật từ hội sở chính xuống các chi nhánh. Sự thiếu đồng bộ là khó khăn lớn khi các NH liên kết với nhau để cùng phát triển dịch vụ mới dẫn đến tình trạng người dân có muốn dùng thẻ nhưng khi đi mua săm thì lại không thể dùng thẻ ở nhiều nơi.

Thứ hai là về vấn đề thu nhập và thói quen, người dân nước ta có thu nhập trung bình là không cao và có thể không ổn định. Ở các nước phát triển trên thế giới, dân cư có thu nhập cao và ổn định do đó số dư trên tài khoản thanh toán là ổn định và khá lớn, số tiền này có thể coi như là một nguồn vốn kinh doanh cuả ngân hàng, ngân hàng có thể sử dụng số vốn đó để kinh doanh, nên khi người sử dụng thanh toán chỉ phải trả một khoản phí rất nhỏ. Ở Việt Nam, thu nhập của đại bộ phận người dân không thể tạo niềm tin cho ngân hàng nếu như ngân hàng cung cấp thẻ tin dụng, ngân hàng sẽ không muốn cho vay vì có khả năng KH không trả được nợ. Bên cạnh đó thói quen thanh tóan bằng tiền mặt trong dân chúng còn rất lớn làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các phương thức thanh tóan trên.

Thứ ba, còn thiếu hệ thống văn bản pháp lí, sự liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ điện nước… với NH. Nhiều cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ như các siêu thị lớn, khách sạn, nhà hàng….nhưng chưa sẵn sàng hợp tác với NH về thanh toán thẻ.

Thứ tư, ngành ngân hàng ở nước ta là một ngành khá mới mẻ và chưa thực sự hoàn thiện và sự thật là chúng ta không thể hoàn thiện nó trong một sớm một chiều. Do đó việc có những bất cập hay hạn chế trong các dịch vụ của ngân hàng nói chung và dịch vụ thanh toán nói riêng là khó tránh khỏi.

Một số các nguyên nhân khác như tâm lý người dân ngại tiếp cận với công nghệ mới, ngại công khai hóa thu nhập, sử dụng tiền mặt với mục đích không minh bạch…

Chúng ta cần làm gì để khắc phục tình trạng trên?, giải pháp có thể đưa ra là:
Thứ nhất, tăng cường hiện đại hóa và đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin  trong công tác thanh toán theo hướng tự động hóa, tăng tốc đọ xử lí giao dịch, bảo đảm dễ dàng kế nối với các hệ thống ứng dụng khác. Thực hiện kết nối hệ thống thanh tóan điện tử liên ngân hàng.. Ngoài ra, nên thu hút sự hỗ trợ kỹ thuật từ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, cần ưu tiên nguồn kinh phí cho việc phát triển công nghệ. Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Thứ hai, có các biện pháp vận động, khuyến khích…trước hết là các cán bộ, công chức sử dụng dịch vụ thanh toán qua thẻ ( như thanh toán qua POS, chuyển khoản, tín dụng…) để hình thành dần thói quen thanh toán ít dùng tiền mặt trong dân chúng. NH nên tuyên truyền dưới nhiều hình thức như tờ rơi, cáo chí, diễn đàn…để khách hàng tiềm năng thấy được những lợi ích của thanh toán qua thẻ.  Mở rộng hình thức trả tiền qua tài khoản cho cán bộ, công chức… Nhà nước cần có các biện pháp đẩy mạnh sử dụng thanh toán điện tử để thanh toán hóa đơn định kỳ, thường xuyên như hóa đơn tiền nước, tiền điện…

Thứ ba, hoàn thiện, đồng bộ hóa môi trường pháp lí cho hoạt động thanh toán điẹn tử, tạo một hành lang pháp lí thật sự vững chắc, đủ cơ sở đẻ làm nền tảng để phát triển thanh tóan điện tử nói chung và thanh toán qua thẻ nói riêng, thực hiện thông qua bổ sung Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dung, hoàn thiện các văn bản dưới luật liên quan đến các phương tiện, hình thức thanh toán hiện đại  để tạo tính ổn định, can toàn và hiệu quả của hẹ thống. Khung pháp lí cần rõ ràng minh bạch, tăng cường sự giám sat của NHNN đối với  hệ thống ngân hàng.

Thứ tư, nỗ lực cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng, tạo niềm tin cho người sử dụng, chất lượng dịch vụ NH cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thói quen dung ftiền của người dân. Nhà nước có biện pháp yêu cầu và giám sát các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thường xuyên duy trì, chất lượng hóa các dịch vụ cung cấp. Tang cường các biện pháp bảo đảm an toàn trong giao dịch thẻ…làm tôt công tác chăm sóc khách hàng như hướng dẫn sử dụng thẻ, xử lí vướng mắc, khiếu  nại…; có biện pháp hỗ trợ lắp đạt các máy thanh toán tại  nơi có nhu cầu…

Kết hợp một số các giải pháp khác…
Với một ngành non trẻ như Ngân hàng đòi hỏi phải có quá trình lâu dài, nỗ lực của nhiều phía, các tổ chức, đơn vị , cá nhân để đạt được những mục tiêu trên. Việt Nam đã gia nhập WTO, đã vượt qua đại khủng hoảng kinh tế và đang bước vào thập kỉ thứ 2 của thế kỉ XXI, hi vọng NHVN sẽ có một hệ thống thanh toán hoàn thiện và sẽ cùng khởi sắc với nền kinh tế đất nước.

Chuyên mục:Tài chính, Thị trường
  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: