Văn hóa Đảng đã bóp méo tư tưởng của nhân dân

Nguồn: Chanhkien.org

“Văn hóa Đảng”. Đây là một thuật ngữ thường được sử dụng bởi người Trung Quốc, nhưng rất ít người nhận thức được bản chất bạo lực cực đoan và phi nhân tính khi họ sử dụng cụm từ này.

Ngày nay, nhiều người Trung Quốc đã thêm vào chữ “tà” ở phía trước chữ “Đảng” để đọc là “Văn hóa tà Đảng”. Thuật ngữ này thực sự còn xa mới đạt tới mức độ thích hợp và đầy đủ để mô tả những gì mà Đảng đã reo rắc vào xã hội nhân loại.

Người dân ở cả phương Đông và phương Tây đều đã nhận thức được mức độ khiếp hãi dưới sự thống trị của chế độ Cộng sản – một kiểu kiểm soát cho phép sử dụng các nguồn truyền thông áp đảo và người dân cổ súy một thứ văn hóa phù hợp nhất với Đảng Cộng sản, từ đó cho phép các lãnh đạo của tà giáo này giữ được quyền thống trị.

Một văn hóa dựa trên cách nghĩ của người Cộng sản. Một thứ văn hóa hoàn toàn phản nhân tính. Một thứ văn hóa thông qua chế độ Cộng sản phụ thể (ăn bám) để có thể nuôi sống suy nghĩ của nhân dân, buộc họ tuyệt đối tuân lệnh và hoàn toàn lệ thuộc vào kẻ thống trị tàn bạo.

Phương tiện

Bằng cách nào những con người tốt bụng và trong sáng khi mới chào đời, đã bị ô nhiễm bởi thứ văn hóa này và trở nên phản nhân tính tới mức đáng sợ như vậy? Bằng cách nào con người cho phép chính họ bị tẩy não bởi thứ văn hóa này, trở nên hoàn toàn quỳ gối trước tà linh và phục vụ cho mục đích của nó?

Tất nhiên câu trả lời nằm ở sự kiểm soát toàn diện mà những chiếc vòi bạch tuộc của chế độ Cộng sản len lỏi vào khắp mọi mặt của đời sống xã hội, và quan trọng hơn hết chính là sự tuyên truyền. Với một lực lượng áp đảo như vậy, những người Cộng sản có thể tràn ngập toàn xã hội và người ta dùng cách nói “một ngôi nhà, một tiếng nói” để mô tả sự kiểm soát toàn diện trong xã hội Cộng sản, và khá dễ dàng để truyền bá những học thuyết thuần phục tới người dân trong điều kiện như vậy.

Vì vậy, khi đứa trẻ được sinh ra, cha mẹ chúng đã bị đầu độc bởi văn hóa Đảng và truyền lại cho chúng. Khi những đứa trẻ đi học, các bài hát ca ngợi Đảng lại hằn sâu vào trí óc chúng, dù ở trong lớp học hay các hoạt động ngoại khóa. Khi những thanh thiếu niên học hỏi thêm được về cuộc sống và học lên cao hơn, chúng được dạy rằng Đảng là “vĩ đại, quang vinh và chính xác” và họ nên cám ơn Đảng vì Đảng đã cho họ mọi thứ. Khi người trưởng thành đi làm, đơn vị công tác yêu cầu họ trả phí cho Đảng để cám ơn Đảng đã “từ bi” cho họ công việc và lương bổng. Khi người già nhìn lại cuộc đời mình, họ tự động cám ơn Đảng vì Đảng đã cho họ một cuộc sống tốt đẹp.

Do vậy, các khía cạnh tưởng như bình thường trong đời sống con người đã hoàn toàn bị bóp méo trong cái mệnh đề là Đảng “vĩ đại, quang vinh và chính xác” như thế nào, mặc dù Đảng đã cho họ ít hơn và lấy đi của họ nhiều hơn. Mặt ác của những người Cộng sản thực ra là bản chất thật sự, thứ hoàn toàn ẩn giấu đằng sau sự biết ơn của người dân với sự kiểm soát đám đông trong trao đổi thông tin của Đảng.

Trong một bầu không khí tà ác tràn ngập như vậy, người dân trở nên giống như những con thú đã được thuần hóa trong nông trại, có thể được nuôi dưỡng, thuần hóa, sử dụng và bị mổ thịt theo ý muốn của Đảng.

Nhưng ít nhất, khi các quốc gia Đông Âu nằm dưới sự kiểm soát của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa cộng sản ở đó đã không thể gây nhiều ảnh hưởng như vậy. Khi Stalin đày người dân đi Xi-bê-ri để họ chết ở đó và khi các nhà độc tài Đông Âu giết hại hàng triệu người trong các vụ thanh trừng, thì người dân Đông Âu và cả thế giới, hầu hết họ đều biết về điều đó. Do đó khi thời điểm tới, họ đã bước ra để kết thúc chủ nghĩa cộng sản và tự giải thoát mình khỏi gông cùm Cộng sản.

Nhưng Trung Quốc đã chứng kiến sự kiểm soát tàn bạo và lệ thuộc tinh thần nhất của Cộng sản từ trước đến nay. Sau “Cách mạng Văn hóa” và “Đại nhảy vọt”, hai chiến dịch được ghi lại với những chi tiết ghê sợ trong Chín bài bình luận về Đảng Cộng sản (Cửu Bình), người dân Trung Quốc đã hoàn toàn hiến dâng ý chí của mình cho Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Đó là tại sao gia đình cô Trương Chí Tân đã hoàn toàn chối bỏ sự liên hệ với cô chỉ vì quan điểm [phê phán Mao Trạch Đông] của cô.

“Những ai đã từng trải qua cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ không bao giờ quên cô Trương Chí Tân, người đã bị bỏ tù vì đã phê phán Mao Trạch Đông vì sự thất bại của ông ta trong chiến dịch đại nhảy vọt. Cai ngục đã nhiều lần cởi hết quần áo của cô, còng tay cô ra đằng sau lưng và quẳng cô vào xà-lim nam để cho các tù nhân nam hãm hiếp tập thể cô. Cuối cùng cô trở nên bị điên loạn. Khi bị tử hình, cai ngục sợ rằng cô sẽ hô khẩu hiệu phản đối nên đã ấn đầu cô lên một cục gạch và cắt hở cuống họng của cô mà không hề gây tê.”

(Chín bài bình luận về Đảng Cộng sản, Bình 4: “ĐCSTQ, một lực lượng phản vũ trụ”).

Đó là tại sao thân nhân gia đình những người bị sát hại trong cuộc thảm sát Thiên An Môn, cuộc bức hại những người Cơ Đốc giáo và Pháp Luân Công, những nông dân nghèo và trí thức bị ĐCSTQ lừa gạt vẫn đứng lên bảo vệ Đảng và thà giúp nó bức hại thành viên gia đình mình còn hơn là chống lại nó vì quyền lợi của chính mình.

Hậu quả

Hậu quả đáng sợ nhất của xã hội nhân loại chính là sự tràn ngập hoàn toàn của tâm hồn con người trong cái thứ hoàn toàn đại diện cho tà ác ấy. Dưới một văn hóa vô nhân đạo như vậy, Tà sẽ trở thành Chính và Chính sẽ bị coi như Tà. Người dân được dạy rằng không có Thiên đường, Địa ngục hay Thần; con người không phải chịu hậu quả cho những hành động của mình, và con người được yêu cầu đặt văn hóa Đảng lên trên bất cứ bổn phận con người nào: dẫu đó là gia đình, công việc, bạn bè hay tín ngưỡng tinh thần.

Hậu quả chính là sự suy đồi trong đạo đức nhân loại, sự thối rữa của xã hội khi bị thống trị bởi “lưu manh cặn bã xã hội” (Xem: “Nhân tố di truyền 4: Lưu manh — Lấy lưu manh cặn bã xã hội lập thành đội ngũ cơ bản” trong Chín bài bình luận về Đảng Cộng sản – Bình 2: “ĐCSTQ xuất sinh như thế nào?”) thay cho các nhà lãnh đạo nhân đức và chính trực, và sự thờ phụng giáo phái Cộng sản cùng bản tính tà ác phản lại Thần, phản lại tôn giáo truyền thống của nó.

Chẳng trách tại Trung Quốc ngày nay, băng đảng và đảng viên (mặc dù thực sự không có sự khác biệt giữa hai danh từ này) lại được tôn trọng hơn những người dân đạo đức, chính trực và cao quý.

Dưới hình thức văn hóa này, con đường duy nhất mà người ta có thể đi là “trượt dốc”. Văn hóa Đảng đã gieo cấy sự tà vạy của nó vào xã hội Cộng sản để làm nó trượt dốc và đi đến sự hủy diệt.

Giải pháp

Vậy tại sao người dân lại không nhận thức được thứ văn hóa Đảng này? Tại sao nó không được nghiên cứu như nó nên được làm?

Có lẽ bởi vì người dân không nhận thức được chính bản thân sự tồn tại của nó. Các nhà tâm lý học ngày nay vẫn vò đầu bứt tai khi không hiểu tại sao những con người hoàn toàn trong sáng lại làm việc trong các trại tập trung và trợ giúp Đức Quốc xã tàn sát hàng chục triệu người Do Thái. Bằng cách nào những con người trong sáng lại tấn công những con người trong sáng khác, cả trong xã hội Phát-xít và Cộng sản?

Lý do là sự kiểm soát toàn diện cách suy nghĩ của Đảng Cộng sản và văn hóa Đảng đã khống chế nhân dân. Bị kích động bởi văn hóa Đảng, người dân tại các xã hội Cộng sản nghe theo Đảng tới từng lời nói và hành động.

Điều đáng sợ hơn nữa và ít rõ ràng hơn nữa khi bàn về văn hóa Đảng, đó là bằng cách nào nó khống chế tinh thần và ý chí đạo đức của nhân dân. Bị tràn ngập trong các học thuyết vô thần và sự hủy diệt các giá trị truyền thống, cách suy nghĩ và ý chí của nhân dân đã được huấn luyện để nghe theo mệnh lệnh của văn hóa Đảng, một văn hóa ủng hộ tà ác và bạo lực.

Ít người có thể tin rằng Đảng Cộng sản là tà giáo, và văn hóa Đảng đã kích động nhân dân bằng cách tuyên truyền và dẫn dắt người dân theo cách nghĩ của tà giáo, cách nghĩ đòi hỏi con người phải hiến dâng máu, thậm chí cả thân nhân gia đình nếu cần. Nhưng đây chính là thực tế.

Đó là tại sao cách duy nhất để thay đổi người dân Trung Quốc ngày nay là hoàn toàn vạch trần bản tính tà ác của Đảng Cộng sản và Văn hóa của tà Đảng. Đây là cách duy nhất để nhân dân Trung Quốc và những người bị ngập trong văn hóa Đảng và bản tính tà ác của nó có thể thoát khỏi nó, và lại được sống cuộc sống của một con người thực sự và có được tự do.

Như đã nói trong phần kết luận của Cửu Bình:

“Chỉ khi không có Đảng Cộng sản Trung Quốc thì mới có một Trung Quốc mới.”

“Chỉ khi không có Đảng Cộng sản Trung Quốc thì Trung Quốc mới có hy vọng.”

“Khi không còn Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc chính trực và tốt bụng sẽ xây dựng lại sự huy hoàng lịch sử của Trung Quốc.”

Chỉ khi Cửu Bình vạch trần văn hóa Đảng thực ra là gì, Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc mới có hy vọng.

Dịch từ:

http://www.pureinsight.org/node/3795

 

P/S: Dù bản thân tôi chưa từng vào ĐCS và không còn sinh hoạt Đoàn, nay thấy được bản chất tà ác này, xin tuyên bố thoái Đoàn chính thức

Advertisements
Chuyên mục:Giác ngộ

Phóng sự: Ngườі Vіệt Nаm nghĩ gì về Pháp Luân Công ???

Pháp Luân Đại Pháp tu luyện cả tâm lẫn thân, đồng thời đề cao khả năng miễn dịch tự nhiên của thân thể. Nhiều người Việt Nam đã được trải nghiệm điều này sau khi thực hành tu luyện một thời gian

Thời Đại Truyền Kỳ (Phần 1 + 7): Một Ngày Đặc Biệt

Thời Đại Truyền Kỳ (Phần 1): Hoa mai trong tuyết

Thời Đại Truyền Kỳ (Phần 7): Một Ngày Đặc Biệt

Chuyên mục:Giác ngộ, Học phật

Chuyện Thần Thoại Dành Cho Con Người Tương Lai

Chuyên mục:Giác ngộ, Học phật

Đi tìm đâu là cách trị bệnh tận gốc

Tiểu đệ tử nhìn thấy viên mãn và Pháp Chính Nhân Gian trong tương lai

Tác giả: Viên Minh

[Chanhkien.org] Em là tiểu đệ tử Đại Pháp, theo cha tu luyện từ khi lên 6 tuổi. Vừa mới bắt đầu tu luyện, Sư phụ đã mở thiên mục cho em, để em nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng không gian khác. Trong tu luyện, em có rất nhiều thiếu sót, nhân tâm còn nhiều, giảng chân tướng làm chưa tốt. Từ nay về sau, em phải tinh tấn hơn nữa để không phụ kỳ vọng của Sư phụ. Tại đây, em xin kể lại cảnh tượng nhìn thấy ở không gian khác để giao lưu cùng quý đồng tu; hy vọng các đồng tu đều có thể tinh tấn hơn, cứu độ nhiều chúng sinh hơn. Cảnh tượng em nhìn thấy là không cách nào dùng ngôn ngữ để biểu đạt; cảnh tượng không gian khác là vô cùng thù thắng, mỹ diệu và tráng lệ.

Đệ tử Đại Pháp viên mãn

Sáng sớm, đại khái là thời gian đệ tử Đại Pháp vừa luyện công buổi sáng xong, trên không trung xuất hiện một dải cầu vồng, từ bên này bắc qua bên kia bầu trời; ở vị trí chính giữa cầu vồng là một Pháp Luân lớn đang xoay chuyển. Trong Pháp Luân hiển hiện quá trình đệ tử Đại Pháp từ đắc Pháp đến hồng Pháp, đến “thỉnh nguyện ngày 25/4”, rồi đệ tử Đại Pháp bị bức hại, giảng thanh chân tướng, cứu độ chúng sinh. Tiếp đó một vị Quan Âm Bồ Tát ngồi trên đài sen hiện ra trước Pháp Luân, sau đó ngày càng nhiều Phật Đạo Thần xuất hiện, cuối cùng khắp trời đều là các hình tượng Phật Đạo Thần. Các Phật Đạo Thần này đều là chư Thần trong đại khung vũ trụ đối ứng với mỗi đệ tử Đại Pháp, là tới nghênh đón đệ tử Đại Pháp về nhà. Sau khi chúng Thần đều tới đông đủ, họ nói với đệ tử Đại Pháp dưới mặt đất: “Đệ tử Đại Pháp cần phải về nhà rồi”. Đây chỉ là ý đại khái mà thôi, không thể dùng ngôn ngữ chính xác hơn để biểu đạt. Trong nháy mắt, thân thể đệ tử Đại Pháp dưới mặt đất đều được Sư phụ chuyển hóa thành Thần thể và bắt đầu bay lên.

Ngay trước lúc này, đệ tử Đại Pháp còn không biết là sắp viên mãn; tuy nhiên, có một số hiện tượng phát sinh trên thân một số đệ tử Đại Pháp, chẳng hạn có đệ tử Đại Pháp thiên mục đột nhiên khai mở, hoặc nhìn thấy một vài cảnh tượng.

Khi đệ tử Đại Pháp toàn bộ bay lên trời, khắp trời đều là Pháp Luân tỏa sáng lấp lánh. Lúc này tiên nữ trải hoa, phi thiên cùng tiếng tiên nhạc du dương bắt đầu nhảy múa, trong đó rất nhiều điệu múa rất giống với diễn xuất Thần Vận. Còn có đánh trống nữa, rất giống đội trống lưng của các học viên ở phương Tây, khắp trời cùng mừng vui.

Đệ tử Đại Pháp được chúng Thần nghênh đón, trở về thế giới của từng người, trở về các đại khung thiên thể khác nhau. Sau đó, Pháp thân lớn của Sư phụ hiện ra, ánh vàng kim lấp lánh, ánh từ bi chiếu rọi khắp đại khung vũ trụ và tất cả chúng sinh. Hết thảy chúng sinh đắm trong hào quang của Phật chiếu rọi khắp trời đất. Cuối cùng, Pháp thân Sư phụ ẩn đi, phi thiên cũng bay đi.

Lúc này, đa số người thường đối diện với cảnh tượng tráng lệ ‘bay lên giữa ban ngày’ của đệ tử Đại Pháp thì rớt nước mắt. Có người nói đệ tử Đại Pháp đã từng giảng chân tướng cho mình, nhưng bản thân không tiếp thu nên vô cùng đau khổ; có người thường vì bỏ lỡ cơ duyên, không tu luyện, hối hận thì đã quá muộn; có người thường quỳ trên mặt đất cầu Sư phụ đưa đi… Đắc được Pháp mà không chịu tu, so với người thường còn thống khổ hơn…

Pháp Chính Nhân Gian

Nhân loại gây ra nợ nghiệp quá lớn, thì tất phải hoàn trả. Sau khi đệ tử Đại Pháp viên mãn, vào một ngày nọ, những chiếc lá còn xanh trên cây bỗng theo gió rụng xuống, thân cây trơ trụi, bầu trời xanh lam dần dần biến thành màu vàng ảm đạm. Qua mấy ngày, bầu trời lại biến thành màu xám tro; lại qua mấy ngày nữa, bầu trời dần dần biến thành màu đen u ám, đến đâu cũng thấy giống như có khói vậy, khiến người ta cảm thấy một loại cảm giác hết sức thê lương.

Lúc bắt đầu chỉ là mấy cá nhân bị mắc một căn bệnh lạ, ngón tay sưng lên, tróc da, bên trong giống như có nước. Sau đó, tay bắt đầu thối rữa từng chút một, thối rữa tới chân, cuối cùng lên đến đầu. Cuối cùng khắp thân đều bị thối rữa hết mà chết. Người mắc loại bệnh này đau đớn không chịu nổi, ngủ không ngủ được, ăn không ăn được, chỉ khóc lóc suốt ngày đêm. Người tiếp xúc với loại bệnh này toàn bộ cũng bắt đầu mắc bệnh này, số người mắc bệnh càng ngày càng nhiều, trên mặt đất đâu đâu cũng có, xác chết ngổn ngang. Bầu không khí bị bao phủ bởi một mùi hôi thối dày đặc, đến đâu cũng là người đau đớn khóc lóc thảm thiết kêu la.

Nhà cửa không có người ở, đều vắng vẻ trống không, tiền ném đầy mặt đất. Có người chấp trước vào tiền bạc, khi chết tay vẫn còn ôm một bọc tiền. Còn có hai người giành tiền đến mức đánh nhau, nhưng họ chết còn thảm thương hơn, tay chân thối rữa cùng lúc. Người đặc biệt xấu thì tay chân cùng thối rữa một lúc. Về cơ bản một thôn chỉ sót lại ba, bốn người, một thành phố sót lại khoảng mấy chục người. Những ai được lưu lại đều là những người tốt với rất nhiều đức.

Sau khi trận đại ôn dịch này kết thúc, khắp địa cầu nổi lên một trận bão cát dữ dội; tất cả thành thị, thôn làng đều bị đất và cát vùi lấp, từ đó trên bản đồ nhìn không ra nơi nào nữa.

Những người được lưu lại sẽ bắt đầu một thời đại mới, bắt đầu từ cuộc sống nguyên thủy. Họ sẽ lấy bài học bức hại Đại Pháp và viên mãn của đệ tử Đại Pháp giảng cho người đời sau, để họ vĩnh viễn ghi nhớ Đại Pháp là tốt, thiện ác đều có báo ứng.

Tại đây, hy vọng các đồng tu mau nắm chắc thời gian tu luyện, nắm chắc thời gian cứu độ chúng sinh. Đồng thời, hy vọng con người thế gian dù có tu luyện hay không, nhất định phải làm một người tốt, không được hành ác với Đại Pháp. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, nợ còn thiếu thì nhất định phải hoàn trả.

Dịch từ:

http://www.minghui.org/mh/articles/2010/7/11/226828.html

Chuyên mục:Giác ngộ, Học phật

Huyền bí ngày 13/5: Israel phục quốc, Cứu Thế Chủ giáng sinh

Trong Kinh Thánh có tiên tri rằng Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới vào thời khắc cuối cùng của nhân loại. Theo truyền thuyết tôn giáo thì trước khi Cứu Thế Chủ Messiah tới nhân gian, một dấu hiệu là người Israel phục quốc.

cứu thế chủ, Chuyển luân Thánh Vương, Bài chọn lọc,

Nghệ thuật biểu diễn đỉnh cao Shen Yun khai mở những bí ẩn về thế giới thần tiên và tiên tri trong lịch sử. (Ảnh: ShenYun)

Thần tại nhân gian

Kinh Thánh có lời tiên tri rằng, vào thời khắc tối hậu của nhân loại, sau khi người Israel phục quốc, Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới nhân gian. Còn Kinh Phật ở phương Đông nói rằng khi hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, Phật Di Lặc tương lai sẽ hạ thế phổ độ chúng sinh. Hiện tại, những sự việc được tiên tri đã lần lượt xuất hiện, Cứu Thế Chủ của cả Đông và Tây phương phải chăng đã tới ngay bên cạnh chúng ta?

Vào 2000 năm trước, khi Do Thái giáo đã đến thời kỳ Mạt Pháp, Thánh giả Jesus xuất thế truyền chính pháp cứu rỗi cho dân tộc Do Thái, nhưng lại bị chính người đứng đầu của người dân Do Thái hại chết.

Trong “Phúc âm Matthew – kinh Tân Ước” ghi lại cảnh khi các thượng tế và kỳ mục, những người đứng đầu Do Thái yêu cầu Tổng trấn Pilate phán Chúa Jesus tội tử hình: “Tổng trấn Pilate thấy đã chẳng được ích gì mà còn thêm náo động, nên lấy nước rửa tay trước mặt đám đông mà nói: ‘Ta vô can trong vụ đổ máu người này. Mặc các người liệu lấy!’. Toàn dân đáp lại: ‘Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!’”.

Những lời này không chỉ định ra tương lai của chính họ, mà còn định ra tương lai hàng nghìn năm của con cháu người Do Thái: Người Do Thái hàng nghìn năm qua không có tổ quốc, bị bức hại phiêu bạt tứ xứ.

Giống như quy luật “mắt đền mắt, răng đền răng” mà Moses định ra trong kinh “Cựu Ước”. Con cháu của dân tộc Do Thái, trên tổng thể vốn không làm chuyện ác gì, nhưng lại phải chịu khổ nạn trong gần hai nghìn năm, đây chính là đang ứng nghiệm với lời thề độc trong lúc huyên náo của tổ tiên họ khi hại chết Chúa Jesus, họ phải hoàn trả tội lỗi của tổ tiên mình.

Sau khi Thế chiến II kết thúc, người Israel trải qua mấy nghìn năm lưu lạc trên thế giới cuối cùng đã phục quốc. Ngày 13/5/1948, trong đại hội Do Thái, Jerusalem đã tuyên bố bản tuyên ngôn về “Israel phục quốc”.

Từ đó trở đi, Israel đã phát triển giống như có kỳ tích vậy, vị Thần mà họ tôn thờ và tín phụng, dường như lần nữa đã bắt đầu quan tâm đến dân tộc đã phải chịu nhiều khổ nạn này. Đó là bởi Cứu Thế Chủ Messiah sắp truyền Chính Pháp ở thế gian con người, vậy nên đã cấp cho dân tộc cổ xưa này một cơ duyên cứu độ.

Tại Đông phương cũng có ghi chép về một tín hiệu trọng đại báo hiệu Phật Di Lặc tương lai (Chuyển Luân Thánh Vương) hạ thế. Quyển 8 Kinh Phật «Huệ Lâm Âm Nghĩa» ghi rõ: “Ưu Đàm Bà La hoa là loài hoa linh dị mang điềm lành, tức Thiên hoa, trên thế gian không có. Khi Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương xuất hiện ở thế gian, thì nhờ đại phúc đức của Ngài mà xuất hiện loài hoa này”.

Kinh Phật «Vô Lượng Thọ» cũng ghi lại như sau: “Ưu Đàm Bà La hoa là dấu hiệu báo điềm lành”. Còn theo quyển 4 kinh «Pháp Hoa Văn Cú» thì: “Ưu Đàm hoa, có nghĩa là may mắn linh thiêng. Ba nghìn năm mới nở một lần, khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện”.

Kể từ năm 1992, tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Australia, các tiểu bang nước Mỹ, Canada, các tỉnh Trung Quốc, người ta liên tục phát hiện hoa Ưu Đàm Bà La thánh khiết khai nở.

cứu thế chủ, Chuyển luân Thánh Vương, Bài chọn lọc,

Hoa Ưu Đàm khai nở khắp thế giới, báo hiệu sự xuất hiện của Chuyển Luân Thánh Vương. (Ảnh: Dictat.net)

Nếu như Kinh Phật và Kinh Thánh là đáng tin cậy, thì như vậy nhân loại nhất định sẽ xuất hiện hai Cứu Thế Chủ. Hoặc Di Lặc trong Kinh Phật chính là Messiah trong Kinh Thánh?

Cố học giả của nền giáo dục Trung Quốc, nhà Phật học, nhà phiên dịch Quý Tiện Lâm và các đồ đệ của ông đã có một cống hiến quan trọng, đó là phát hiện mối liên hệ giữa Phật gia và Cơ Đốc giáo, ấy chính là “Vị lai Phật Di Lặc của Phật gia và Cứu Thế Chủ Messiah của Cơ Đốc giáo là cùng một người”.

Di Lặc, trong tiếng Sanskrit gọi là “Maitreya”, tiếng Pali gọi là “Metteya”, và gần như không có quan hệ gì về phát âm với hai chữ “Di Lặc” trong tiếng Hoa. Pháp sư Huyền Trang của Đại Đường trong khi phiên dịch đã phát hiện thấy điểm này, bởi vậy Huyền Trang mới nói là dịch sai, và lẽ ra nên phiên dịch thành “Mai Lợi Da”. Tuy nhiên người ta không tiếp thụ ý kiến của vị cao tăng Huyền Trang, lại còn cố định gọi thành “Di Lặc”, và “Mai Lợi Da” đã trở thành phát minh cá nhân của pháp sư Huyền Trang.

Vị Thần mà người Tây phương chờ đợi gọi là “Messiah” trong tiếng Anh, tiếng Hán phiên thành “Di Trại Á”, và bắt nguồn từ chữ “Masiah” trong tiếng Hebrew (có lúc viết thành “Mashiach”). Tiếng Hy Lạp phiên dịch thành “Christos”, bởi vậy mới có chữ “Christ” (Cơ Đốc). “Messiah” và “Christ” về cơ bản là có nghĩa tương đương, và Tân Ước coi Chúa Cứu Thế tương đồng với Messiah của Do Thái giáo.

Hai chữ “Maitreya” và “Masiah” có âm rất gần. Trên thực tế, “Di Lặc” nguyên từ tiếng Tocharian của Tân Cương và “Messiah” nguyên từ tiếng Hebrew của Israel là một từ đồng nhất, chẳng qua ở Tây phương đọc là “Messiah”, ở Ấn Độ đọc là “Maitreya”, còn ở Trung Quốc đọc là “Di Lặc”. Tình huống ngôn ngữ này cũng rất hay gặp trong lịch sử văn minh nhân loại.

Cách tạo tượng dân gian và dự ngôn hiển rõ thiên cơ

Trong dân gian Trung Quốc bảo lưu một phương thức tạo hình Di Lặc, một pho tượng Phật tươi cười, vây quanh có 18 tiểu hài tử, nô đùa muôn hình muôn vẻ, được gọi là “Thập bát tử Di Lặc”. Thế nhưng “Thập bát tử” (十八子) hợp thành một chữ “Lý” (李), tức báo trước Phật Di Lặc hạ thế truyền Pháp độ nhân vào thời mạt kiếp với phàm thân có họ “Lý”. Truyền thuyết và cách tạo tượng Di Lặc thập bát tử này đã lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Dự ngôn «Cách Am Di Lục» của Hàn Quốc tiên tri: “Hà vi Thánh nhân, Mộc Tử tính thị” (“Thánh nhân là ai, họ là Mộc Tử”; “Mộc Tử” (木子) ghép thành chữ “Lý” (李)), tuổi Thỏ, tháng Tư xuất sinh tại phía Bắc tam bát cấp (vĩ tuyến 38 độ Bắc phân chia Nam-Bắc Triều Tiên), Tam Thần sơn hạ (dưới chân núi Tam Thần sơn, tức Công Chủ Lĩnh dưới chân núi Trường Bạch)… Vị Thánh nhân này là “vương trung chi Vương” (Vua của các vua) trên thiên thượng, tức Pháp Luân Thánh Vương, lần này hạ phàm nhân gian gọi là Di Lặc Phật.

Di Lặc hạ thế tại đâu?

Quốc sư triều Minh Lưu Bá Ôn tại quyển 2 «Thôi Bi Đồ» đã tiên tri:

Đại Giác Giả “thấu hư đến Nam Hạp Phù Đề thế giới trung thiên tại Trung Quốc Kim Kê mục, phụng Ngọc Thanh thời niên kiếp tận, Long Hoa hội Hổ, Thỏ chi niên đáo trung thiên, nhận Mộc Tử vi tính“.

Nghĩa là Phật Di Lặc tương lai sẽ chuyển sinh đến “trung thiên Trung Quốc” vào năm Thỏ, cụ thể là giáng sinh tại vị trí “mắt Gà Vàng” (Kim Kê mục) trên bản đồ Trung Quốc (chỉ tỉnh Cát Lâm), lấy “Mộc Tử” (木子) chính là chữ “Lý” (李) làm họ.

Ngoài ra, Lưu Bá Ôn và Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã có một đoạn đối thoại liên quan tới lịch sử ngày nay, trình bày càng rõ ràng minh bạch xuất chúng hơn nữa:

“Hoàng đế hỏi: Cuối cùng ai sẽ truyền Đạo?

Bá Ôn đáp: Có thơ làm chứng rằng:

Không tướng tăng cũng chẳng tướng đạo
Đội mũ lông cừu nặng bốn lạng
Chân Phật không ở trong tự viện
Ngài là Di Lặc nguyên đầu giáo”

Giải: Vào cuối thời mạt pháp, người truyền chính Pháp sẽ không phải là hòa thượng trong chùa chiền, cũng không phải là đạo sĩ trong đạo quán. “Đội mũ lông cừu nặng bốn lạng” ý nói người truyền chính Pháp để tóc ngắn kiểu nam tử ngày nay (đàn ông thời xưa để tóc dài), minh xác chỉ rõ: Chân Phật truyền chính Pháp không phải là người trong Phật giáo.

“Hoàng đế hỏi: Di Lặc hạ phàm tại nơi đâu?

Bá Ôn đáp: Nghe thần nói đây: Lúc Giáo chủ tương lai hạ phàm, không ở tại Tể phủ giống quan viên, không ở tại Hoàng cung làm Thái Tử, cũng không xuất thân nơi miếu lý hoặc đạo quán, mà giáng sinh tại căn nhà cỏ của bách tính hàn vi, rải vàng khắp Yên Nam Triệu Bắc”.

Giải: Vị Chủ của vũ trụ truyền chính Pháp trong tương lai sẽ không sinh ra tại gia đình quan chức chính phủ, không thuộc gia đình quyền quý, cũng không xuất thân tại chùa chiền hay đạo quán, mà sẽ giáng sinh trong gia đình người dân nghèo.

“Yên Nam Triệu Bắc” là chỉ vùng đất nước Yên, nước Triệu thời Chiến Quốc, tức vị trí Bắc Kinh ngày nay. “Rải vàng” là ẩn dụ Phật Pháp quý giá như vàng, truyền khắp bốn phương.

cứu thế chủ, Chuyển luân Thánh Vương, Bài chọn lọc,

Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân, Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. (Ảnh: FalunArt.org)

“Hoàng đế hỏi: Khanh nói gì về Đạo thời đó?

Bá Ôn đáp: Lúc sắp kết thúc, vạn Tổ hạ giới, nghìn Phật lâm phàm, phổ thiên Tinh Đẩu, La Hán quần Chân, mãn thiên Bồ Tát, khó thoát kiếp này, duy có mạt lai Phật hạ thế truyền Đạo, thiên thượng thiên hạ chư Phật chư Tổ, nếu không gặp con đường Kim Tuyến, khó tránh kiếp này, bị tước quả vị, sau cùng Di Lặc phong bế hết 81 kiếp”.

Giải: Vào lúc sắp kết thúc thời kỳ mạt pháp, vô số Vương, vô số Phật, Bồ Tát, La Hán, vô số Đạo, Chân Nhân khắp Trời, họ đều khó thoát khỏi kiếp nạn này. Họ đều thấy trước sẽ xuất hiện kiếp nạn này, đã biết trước về thời kỳ này, rằng “vạn vương chi Vương” của vũ trụ —vị Phật tương lai— sẽ hạ xuống nhân gian hồng truyền Đại Pháp vũ trụ. Do đó họ đều ào ào chuyển sinh đến thế gian con người, lợi dụng thân người để đồng hóa với Đại Pháp được Đức Phật Chủ hồng truyền tại nhân gian. “Thiên thượng thiên hạ chư Phật chư Tổ”, bất kể là ai, nếu không gặp được “con đường Kim Tuyến” (con đường tu luyện Đại Pháp) được so sánh là quý như vàng này, thì đều không thể thoát khỏi trường kiếp nạn.

Rất nhiều dự ngôn cổ đại toàn thế giới đều đề cập rằng: “Nếu như vào lúc giao thời thiên niên kỷ phát sinh một sự kiện đặc định nào đó, thì tất cả dự ngôn về đại tai nạn hủy diệt toàn cầu đến đó là kết thúc”. Như vậy, “sự kiện đặc định” ở đây là chỉ điều gì? Vì sự an nguy của nhân loại tương lai, rất nhiều người quan tâm đến sự việc này. Tiếp theo đây, chúng ta sẽ khám phá xem «Thôi Bi Đồ» của Lưu Bá Ôn giải thích như thế nào về vấn đề này.

Ngày 13/5/1951, tức ngày mùng 8 tháng Tư theo Nông lịch, người sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí xuất sinh tại thành phố Công Chủ Lĩnh, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, sinh năm Thỏ, ngày này chính là “Lễ Phật đản” trong Phật giáo. Đồng thời ngày này cũng chính là ngày thứ 50 tính từ Lễ Phục Sinh năm 1951, gần như là “Lễ Thánh Linh giáng lâm” trong Cơ Đốc giáo.

Ngày 13/5/1992, cũng là lần đầu tiên Đại sư Lý Hồng Chí truyền xuất Pháp Luân Đại Pháp ra công chúng, và cuốn Chuyển Pháp Luân – cuốn sách chỉ đạo chính của Pháp Luân Công đã vén mở vô số những bí ẩn của nhân loại, đem đến những nhận thức mới cho con người về tu luyện, sinh mệnh và vũ trụ.

Theo Kinh Phật ghi lại, Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Đức Phật, có 32 tướng, 7 bảo; Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. Bất kể theo Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Nho giáo, chỉ cần khoan dung với mọi người, thì đều có thể có duyên gặp Chuyển Luân Thánh Vương. Thế nhưng việc tốt hay gặp trắc trở, Thần đến thật rồi, mà con người vẫn nghi hoặc không tin.

Thế nhân trong mê bất tỉnh

Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc. Vào ngày 2/3 năm Trinh Minh thứ 2 triều Hậu Lương (năm 916), trước khi tạ thế, ông lưu lại bài kệ khắc trên bia đá trong chùa Nhạc Lâm như sau: “Di Lặc chân Di Lặc; Phân thân thiên bách ức; Thời thời thị thời nhân; Thời nhân tự bất thức” (Di Lặc ấy là Di Lặc thật; Phân thân hàng trăm nghìn vạn; Lúc nào cũng thị hiện người đời; Chỉ bởi người không tự biết).

cứu thế chủ, Chuyển luân Thánh Vương, Bài chọn lọc,

Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc.

Bài kệ trước khi viên tịch của Bố Đại hòa thượng đã nói với người đời rằng, khi Phật Di Lặc tương lai hạ thế độ nhân, bất chấp chân tướng không ngừng triển hiện, thế nhân vẫn không thể đối diện với hiện thực.

“Phúc âm John” trong Kinh Thánh viết (1:10-11): “Ngài đã vào thế gian, thế gian đã được tạo nên bởi Ngài, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài. Ngài đã đến với dân Ngài, nhưng dân Ngài không tin nhận Ngài”.

Kinh Thánh còn nói khi Cứu Thế Chủ giáng thế cứu người, ánh sáng của Ngài sẽ chiếu rọi thế giới trong nháy mắt, tựa như tia chớp từ trời tỏa sáng không trung. Thế nhưng người đời không nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, lại để Ngài phải chịu khổ không ít, thậm chí còn bị thế nhân không rõ chân tướng gièm pha.

Trong «Các Thế Kỷ» có một bài thơ nổi tiếng minh xác về thời gian, đó là Các Thế Kỷ X, Khổ 72 tiên tri về đại sự kiện:

Vào năm 1999, tháng 7,
Để Đại vương Angoulmois phục sinh,
Đại vương Khủng bố sẽ từ trên trời xuống,
Đến thời trước và sau khi Mars thống trị thiên hạ,
Nói là để có cuộc sống hạnh phúc cho mọi người.

Ngày 20/7 xác thực là một ngày đặc thù, được «Các Thế Kỷ» tiên tri là Giang Trạch Dân, kẻ chống Chúa, sẽ phát động cuộc đàn áp toàn diện đối với những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Cuộc đàn áp gây bao đổ máu, phỉ báng lừa dối, tạo ma nạn tại Trung Nguyên, mê hoặc thế nhân khiến họ phạm tội.

Đây chính là trận đại chiến Chính- Tà tối hậu Armageddon giữa Chiên Con và thú mà “Khải Huyền” nhắc tới, đến nay đã 18 năm. Đối diện với ma nạn, vô số Thánh đồ đã kiên nhẫn giảng rõ sự thật để thực hiện sứ mệnh cứu độ chúng sinh. Đảng Cộng sản Trung Quốc ngang nhiên chống lại Phật Pháp “Chân-Thiện-Nhẫn” của vũ trụ, đã rơi vào vũng bùn trong cuộc đọ sức Chính-Tà này. Câu sấm “Cửu thập cửu niên thành đại thác” (Năm 99 thành sai lầm lớn) của dự ngôn «Thôi Bối Đồ» triều Đường đã trở thành sự thực.

Cuối cùng hướng về Thần

Kinh «Trường A Hàm», quyển 18 viết: “Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế… thời các tiểu vương tại Đông phương thấy Đại Vương, đều dâng châu báu quy thuận. Ngoài ba phương Nam, Tây, Bắc đều như vậy”.

“Khải Huyền” của Kinh Thánh viết (7:9-10): “Sau những việc đó, kìa, tôi thấy một đám đông rất lớn, không ai có thể đếm được, từ mọi quốc gia, bộ lạc, dân tộc, và ngôn ngữ đứng trước ngai và trước Chiên Con; ai nấy đều mặc áo choàng trắng và tay cầm cành thiên tuế. Họ cùng nhau cất tiếng hô vang rằng: ‘Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và thuộc về Chiên Con’”.

Cho dù phải trải qua bao nhiêu ma nạn, cuối cùng con người cũng đều hướng về Thần; những người này đến từ các phương, các nước, các dân tộc. Kinh Phật và Kinh Thánh đều nhất trí khi miêu tả điểm này.

Tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại

Sau khi Cứu Chủ giáng thế cứu vãn chúng sinh, nhân gian sẽ nghênh đón tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại.

Kinh «Di Lặc Hạ Sinh» viết: “Quốc thổ đều phú thịnh, vô phạt vô tai ách; nam nữ đều do thiện nghiệp sinh. Đất không cây gai, chỉ sinh cỏ xanh, thuận theo gót chân, mềm như tơ tằm. Tự nhiên xuất lúa thơm, mỹ vị đều sung túc. Cây cối sinh y phục, màu sắc đều trang nghiêm; cây cao ba tòa nhà, hoa quả thường dư dật. Lúc ấy người trong nước, đều thọ tám vạn năm, không có khổ bệnh tật, đầu óc thường an lạc”.

“Isaiah” của Kinh Thánh viết (65:19-20): “Tiếng than khóc sẽ không còn nghe trong thành ấy; Tiếng khóc than sẽ vĩnh viễn không còn. Trong thành ấy trẻ thơ sẽ không chết yểu; Không người già nào không hưởng trọn tuổi thọ của mình; Vì ai trăm tuổi mà qua đời sẽ bị xem là chết yểu; Người chưa được bách niên mà phải lìa đời sẽ bị xem là bị nguyền rủa”.

“Khải Huyền” của Kinh Thánh cũng miêu tả tân Thiên, tân Địa như sau (22:2): “Giữa quảng trường của thành, nơi rẽ ra của hai nhánh sông, có một cây sự sống sinh trái mười hai đợt, mỗi tháng một đợt, và lá của cây ấy được dùng để chữa lành các dân”.

Bởi vậy, sau khi trải qua trận đại chiến Chính-Tà này, những người có đạo nghĩa, duy hộ Phật Pháp sẽ được lưu lại và có phúc. Họ sẽ trường thọ an lạc, vô phạt vô tai, hoa quả sung túc, mỹ vị phong phú, chung sống hòa thuận, không tranh không đấu, nhân loại từ đó tiến nhập vào kỷ nguyên mới.

TinhHoa tổng hợp